Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo Điều 226 Bộ luật Hình sự

1/ Quyền sở hữu công nghiệp là gì?

Theo khoản 4 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019 và 2022), quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.

2/ Các yếu tố cấu thành tội phạm

– Chủ thể:

Chủ thể của tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự. Độ tuổi chịu trách nhiệm hành sự được quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2017)

– Khách thể:

Khách thể của tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu, quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp của cá nhân, pháp nhân được pháp luật quy định và bảo vệ.

– Mặt khách quan:

Người phạm tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp khi thực hiện một trong số các hành vi sau:

+ Chiếm đoạt quyền sở hữu (quyền sở hữu trí tuệ) đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp gồm: nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam.

+ Có hành vi sử dụng bất hợp pháp (trái pháp luật) đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp.

– Mặt chủ quan:

Người phạm tội hoặc pháp nhân phạm tội thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp với lỗi cố ý. Cá nhân, pháp nhân nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức sở hữu đối tượng quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hay chỉ dẫn địa lý nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Theo đó, người phạm tội thực hiện tội phạm vì mục đích kinh doanh (vụ lợi), đây là một trong các dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này, người có các hành vi nêu ở trên nhưng không vì mục đích kinh doanh thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *