Suy đoán vô tội là nguyên tắc cơ bản của TTHS Việt Nam

Một tư tưởng để trở thành nguyên tắc của pháp luật trong đó có nguyên tắc của TTHS đảm bảo yêu cầu đầu tiên đó là phải chuyển tải một tư tưởng có ý nghĩa là giá trị được thừa nhận chung. Bên cạnh đó, một nguyên tắc cơ bản của TTHS phải đảm bảo tính đầy đủ, tính phù hợp, toàn diện và đồng bộ. Suy đoán vô tội đã được thừa nhận là giá trị của văn minh nhân loại trong việc bảo vệ quyền con người trong TTHS. Tính đầy đủ của nó thể hiện ở việc phải nhận thức được đầy đủ, chính xác nội dung (đòi hỏi) của nguyên tắc đó trên cơ sở lý luận luận. Tính phù hợp đòi hỏi nó phải phù hợp với các điều kiện kinh tế, chính trị, lịch sử , văn hóa, tập quán lập pháp, truyền thống tố tụng…. của mỗi quốc gia; tính toàn diện đòi hỏi các nội dung, tinh thần của nguyên tắc phải được thể hiện xuyên suốt quá trình tố tụng hình sự từ các quy định của pháp luật cho đến thực tiễn thực hiện nó. Tình đồng bộ, đòi hỏi nguyên tắc này phải đồng bộ với các nguyên tắc khác của tố tụng hình sự, cao hơn nữa là phù hợp và đồng bộ với mục đích và mô hình TTHS nói riêng và bản chất của nhà nước nói chung. Bởi lẽ, không thể có những nguyên tắc tố tụng hình sự thấm nhuần tư tưởng bình đẳng bác ái và pháp chế trong một xã hội bất công, quyền con người không được tôn trọng và văn hóa pháp lý không phát triển. Ngược lại trong một xã hội dân chủ, pháp luật kỷ cương được tôn trọng thì muốn hay không muốn như tư tưởng sáng giá nhất- vốn là thành tựu của tư pháp thế giới ở lĩnh vực tố tụng hình sự sẽ nghiễm nhiên trở thành các nguyên tắc của tố tụng hình sự. Suy đoán vô tội với tư cách là nguyên tắc của TTHS Việt Nam đã thể hiện được các yêu cầu này.

Cội nguồn của nguyên tắc suy đoán vô tội có từ thời La-mã cổ đại khi người ta cho rằng trách nhiệm chứng minh thuộc về bên tố cáo và chỉ áp dụng trong tố tụng dân sự. Tư tưởng này chỉ thực sự trở thành nguyên tắc pháp luật khi khi cách Cách mạng tư sản Pháp dành thắng lợi đánh một dấu mốc trong cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ của nhân loại để bảo vệ quyền con người, cùng với đó là đòi hỏi ngày càng gay gắt của xã hội: Cần phải có biện pháp hạn chế, chống lại sự chuyên quyền, độc đoán xâm phạm thô bạo quyền con người trong TTHS từ phía nhà nước.

Giá trị của suy đoán vô tội được xem xét ở hai phương diện: phương diện chứng minh và phương diện đối xử. Ở phương diện chứng minh cần bắt đầu từ vấn đề cơ bản nhất là bản chất của TTHS đó là quá trình nhận thức về sự thật của vụ án. Lý thuyết về chứng minh chỉ ra nhiều phương pháp chứng minh. Bên cạnh phương pháp chứng minh trực tiếp, người ta có thể chứng minh bằng phương pháp phản chứng (reductio ad absurdum) – tiếng La tinh có nghĩa là “thu giảm đến sự vô lý”. Theo đó, người ta sẽ chứng minh nếu một phát biểu nào đó xảy ra, thì dẫn đến mâu thuẫn về lôgic, vì vậy phát biểu đó không được xảy ra. Ví dụ: Nguời ta tìm thấy một chiếc áo dính máu nạn nhân bị sát hại trong nhà ông A. Rõ ràng ở đây có dấu hiệu tội phạm và người phạm tội. Câu hỏi ông A có phạm tội hay không là một mệnh đề cần phải chứng minh. Thay vì chứng minh trực tiếp ông A phạm tội, nhân viên cảnh sát đặt ra giả thiết ông A không phạm tội. Trong quá trình chứng minh chừng nào chưa tìm ra được những chứng cứ loại trừ giả thiết chứng minh ban đầu có nghĩa là ông A luôn không phạm tội. Tuy nhiên, chứng minh trong TTHS khác với chứng minh trong toán học ở chỗ, một bài toán có thể có một nghiệm, vô số nghiệm hoặc vô nghiệm. Trong TTHS chỉ có hai kết quả hoặc có tội hoặc không có tội mà không thể có kết quả thứ ba là vừa có tội vừa không có tội. Nói cách khác trong TTHS không chứng được “có” thì phải khẳng định là “không”.

Mặt khác, suy đoán vô tội không chỉ đáp ứng yêu cầu chứng minh mà còn bảo vệ được quyền của người bị tình nghi, bị can, bị cáo. Hoạt động TTHS bao gồm hai nhiệm vụ. Trước hết, nó là hoạt động bảo vệ xã hội chống lại hành vi xâm hại từ phía tội phạm. Mặt khác không kém phần quan trọng là bảo vệ cá nhân người bị buộc tội chống lại sự xâm hại quyền con người từ phía công quyền. Luật TTHS trong nhà nước văn minh phải dung hoà được quyền lợi xã hội và tự do cá nhân. Suy đoán vô tội còn đem đến sự cân bằng trong hoạt động TTHS giữa một bên là nhà nước với bộ máy điều tra, truy tố xét xử hùng mạnh được hậu thuẫn bằng quyền lực nhà nước với một bên yếu thế hơn là người bị tình nghi, bị can, bị cáo. Hơn nữa, chứng minh trong TTHS là hoạt động cực kỳ phức tạp, không chỉ là những hành vi khách quan, những hậu quả thực tế mà còn cả những yếu tố tâm lý (lỗi) của người phạm tội. Mọi sai lầm trong chứng minh nhiều khi có thể phải trả giá bằng sinh mệnh của con người. Do đó, “nếu chỉ chứng minh theo hướng suy đoán có tội thì rất dễ dẫn đến việc coi tố tụng hình sự chỉ đơn thuần là việc bắt người và ra bản án kết tội kèm theo những hình phạt cụ thể”. Việc định kiến người bị tình nghi, bị can, bị cáo là người có tội là hết sức nguy hiểm. Nó đồng nhất người bị tình nghi, bị can, bị cáo là người có tội kéo theo đó là việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng tràn lan, thiếu căn cứ, chà đạp lên quyền con người mà nhiều trường hợp khi vụ án được xem xét lại thì họ hoàn toàn vô tội. Lúc đó, có bồi thường oan sai đi chăng nữa thì hậu quả đối với họ không thể nói là đã bù đắp được toàn bộ.

Như vậy, không chỉ là quyền của người bị buộc tội, nghĩa vụ của bên buộc tội, thể hiện giá trị của văn minh nhân loại trong việc bảo vệ quyền con người, suy đoán vô tội còn phù hợp với quy luật của nhận thức trong tố tụng hình sự: Một người luôn vô tội khi nhà nước không chỉ ra được những bằng chứng chống lại điều này và chứng minh được họ có tội.

Nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội là một giả định thể hiện ở yêu cầu: bị can, bị cáo phải được coi là vô tội khi mà lỗi của bị can, bị cáo đó chưa được chứng minh theo một trình tự do pháp luật quy định và được xác định bởi một bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Nguyên tắc suy đoán vô tội khẳng định trong tất cả các giai đoạn tố tụng người bị tình nghi, bị can, bị cáo chưa phải là tội phạm. Do đó nó đòi hỏi hoạt động tố tụng hình sự không chỉ tuân thủ pháp luật tố tụng hình sự để việc xác định sự thật vụ án đạt được kết quả chính xác nhất làm cơ sở để kết luận một người là có tội hay không mà còn nhấn mạnh yêu cầu “mọi hoài nghi về lỗi của bị can, bị cáo phải được giải thích theo hướng có lợi cho bị can bị cáo”.

Nội dung của suy đoán vô tội trong khoa học pháp lý Việt Nam cho đến nay cơ bản thống nhất. Tuy nhiên vẫn còn vấn đề cần lý giải thêm đó là phạm vi chủ thể có nghĩa vụ phải suy đoán vô tội là các cơ quan tiến hành tố tụng hay bao gồm cả cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác và nhất là báo chí?. Điều này có sự khác nhau trong các văn kiện quốc tế về quyền con người. Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của Pháp năm 1789 khẳng định quyền được suy đoán vô tội được đảm bảo cho tất cả mọi người (Điều 9 Tuyên ngôn sử dụng thuật ngữ “tout homme“, tiếng Pháp có nghĩa là “tất cả mọi người“) . Hiến pháp Việt Nam 1992 và BLTTHS Việt Nam 2003 đều quy định: Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.

Tuy nhiên trong Điều 11 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Điều 6 Công ước châu Âu về quyền con người năm 1950 và Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 đã quy định quyền được suy đoán vô tội được đảm bảo cho người bị buộc tội (các điều luật nêu trên đều sử dụng thuật ngữ “personne acusée” trong bản tiếng Pháp, có nghĩa là “người bị buộc tội“)[8]. Hiến pháp Việt Nam 2013 và BLTTHS Việt Nam 2015 giới hạn chủ thể có quyền suy đoán vô tội là “người bị buộc tội”.

Để lý giải sự khác nhau này chúng tôi cho rằng đặt duy đoán vô tội trong các quan hệ pháp luật. Trong quan hệ Hiến pháp với tư cách là quyền Hiến định, chủ thể có nghĩa vụ suy đoán vô tội là bất kỳ ai (không chỉ là cơ quan tiến hành tố tụng và suy đoán vô tội không chỉ áp dụng trong tố tụng hình sự. Trong quan hệ tố tụng hình sự (khi bắt đầu có sựu buộc tội) thì suy đoán vô tội là nghĩa vụ của cơ quan tiến hành tố tụng và là quyền của những người bị buộc tội. Chính vì vậy Uỷ ban châu Âu khẳng định nguyên tắc suy đoán vô tội dành cho tất cả mọi người, không bị giới hạn trong những đảm bảo tố tụng; quyền được suy đoán vô tội được áp dụng mỗi khi đương sự là đối tượng của một tuyên bố công khai chứa đựng ý kiến rằng họ là người có tội.

Nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi chỉ được kết tội một người khi chứng minh đầy đủ lỗi của anh ta. Trong khoa học Việt nam hiện nay vẫn đang tranh luận vấn đề giới hạn chứng. Chứng minh đến đâu thì được coi là đủ? Lý luận về chứng cứ cũng như chứng minh trong TTHS đưa khái niệm “nghi ngờ hợp lý”- resonable doubt và “vượt qua nghi ngờ hợp lý”- beyon reasonable doubt. Đây là hiện tượng của quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự và đồng thời cũng là giới hạn chứng minh, hay là giới hạn cho vấn đề đủ của chứng cứ cũng như tiêu chuẩn đảm bảo chân lý trong các kết luận buộc tội của cơ quan tiến hành TTHS trong nhiều mô hình TTHS.

Theo nguyên lý này, kết luận buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng phải đảm bảo không còn nghi ngờ hợp lý. Ngược lại, nếu kết luận đó vẫn còn nghi ngờ hợp lý thì quá trình chứng minh chưa đủ để kết tội. Nghi ngờ hợp lý đó chính là sự chưa đầy đủ về chứng cứ để buộc tội hoặc chưa rõ ràng về pháp luật. Nếu còn tồn tại các nghi ngờ hợp lý này, quá trình xác định sự thật của vụ án chưa thành công. Mặt khác, nếu đã tìm đủ mọi biện pháp trong giới hạn luật định mà không triệt tiêu được những nghi ngờ hợp lý trên thì một người luôn vô tội và quá trình xác định sự thật của vụ án cũng kết thúc. Sự thật ở đây là một người không thực hiện tội phạm.

Nghi ngờ hợp lý là tiêu chuẩn chứng minh có tội và là một trong những khái niệm phức tạp nhất của tư pháp. Từ Tòa án quận cho tới Tòa án tối cao Mỹ, chưa ai có đủ khả năng để đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về vấn đề này.

Nghi ngờ hợp lý thuộc phạm vi của quyền được truy tố theo trình tự pháp luật. Nó liên quan chặt chẽ với nguyên tắc suy đoán vô tội. Nghi ngờ hợp lý và suy đoán vô tội dịch chuyển gánh nặng xác định sự thật của vụ án bằng chứng chứng minh có tội sang cho bên buộc tội, thay vì người bị nghi ngờ phải tự khai ra. Một cáo buộc về tội phạm của bên công tố được tòa án chấp nhận khi nó “vượt qua được nghi ngờ hợp lý– (beyon a reasonable doubt). Ngược lại, chứng minh chưa vượt qua được nghi ngờ hợp lý hay vẫn còn nghi ngờ hợp lý bị coi là chưa thành công và bị cáo không phạm tội. Việc áp dụng tiêu chuẩn chứng minh “vượt quá yêu cầu nghi ngờ hợp lý” được tóm tắt như sau: Một phiên tòa hình sự thực chất là quá trình tòa án nhận thức sự kiện phạm tội (chân lý) để áp dụng pháp luật hình sự. Quá trình này gồm luôn gồm ba yếu tố: chứng cứ, luật áp dụng, và áp dụng luật vào sự kiện phạm tội dựa vào chứng cứ đã thu thập được. Việc áp dụng luật vào sự kiện phạm tội dựa vào chứng cứ phải đạt dựa trên tiêu chuẩn nhất định. Một trong những tiêu chuẩn được các tòa án áp dụng là: Vượt quá nghi ngờ hợp lý. Nói cách khác, “vượt quá nghi ngờ hợp lý” có thể được diễn giải là “không còn nghi ngờ gì nữa” tuy vẫn có thể không đạt 100% nhưng có sác xác suất hoặc mức độ chắc chắn trên 95%. Trong vụ án hình sự công tố viên phải có gánh nặng chứng minh các sự kiện và chứng cứ của họ vượt quá nghi ngờ hợp lý để buộc tội bị cáo. Tòa án đòi hỏi tòa tiêu chuẩn này vì việc buộc tội một người rất quan trọng, và đòi hỏi bằng chứng khá chắc chắn để có thể áp dụng trách nhiệm hình sự tước đi những tự do của bị cáo. Trong phiên họp bồi thẩm đoàn, sau khi bỏ phiếu quyết định, thông thường mọi người tham gia vàotranh luận, và ai cũng phải cố thuyết phục người khác theo ý mình. Do đó, ai cũng phải trình bày lý do tại sao họ bỏ phiếu đồng ý hoặc không đồng ý với tội phạm đưa ra. Định nghĩa trên được phần lớn các tòa coi trọng. Bang California thậm chí còn hợp thức hóa 3 điều trên của Shaw thành luật tiểu bang. Thế nhưng, định nghĩa này lại bị chỉ trích bới tính không rõ ràng.

Theo Luật TTHS Canada, người bị buộc tội được coi là vô tội cho đến khi bị chứng minh có tội tại toà án luật định. Nhà nước phải chứng minh mỗi yếu tố cấu thành tội phạm của bị cáo bị buộc tội với “nghi ngờ có căn cứ”. Tiêu chuẩn để xác định “nghi ngờ có căn cứ” được Toà án tối cao Canada giải thích như sau: Một nghi ngờ có căn cứ không phải là nghi ngờ dựa trên sự đồng cảm hay định kiến; Nghi ngờ này không đòi hỏi phải chứng minh cho một điều chắc chắn, tuyệt đối; Nghi ngờ này không phải là bằng chứng chắc chắn nhất cũng không phải là một nghi ngờ tưởng tượng; Nghi ngờ có căn cứ được đòi hỏi hơn là chứng minh rằng bị cáo có tội – một thẩm phán chỉ kết luận rằng bị cáo có thể là có tội thì phải tuyên vô tội; Chứng minh được khi không có sự nghi ngờ có căn cứ về điều gì đó gần với sự chắc chắn tuyệt đối hơn là gần với khả năng có tội. Như vậy, trong TTHS Việt Nam hiện nay, giới hạn chứng minh chưa có bộ tiêu chuẩn cụ thể kiểu như “vượt qua nghi ngờ hợp lý” như một số nước mà chỉ quy định giới hạn chứng minh mang tính chất định tính là: các cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ.

Một trong những đòi hỏi đối với nguyên tắc cơ bản của TTHS nói chung và nguyên tắc suy đoán vô tội đó là tính đồng bộ tức nó phải phù hợp với chế độ chính trị nói chung, mô hình tố tụng và các nguyên tắc khác của tố tụng hình sự nói riêng. Nguyên tắc suy đoán vô tội chỉ có thể tồn tại thực chất và thể hiện được giá trị của nó nếu đặt trong nhà nước pháp quyền ở đó quyền con người được ghi nhận và bảo vệ; khi nó phù hợp với mô hình tố tụng đảm bảo được các tiêu chuẩn về xét xử công bằng. Đặc biệt nguyên tắc suy đoán vô tội chỉ được thực hiện khi nó kết hợp với các nguyên tắc khác trong hệ thống nguyên tắc tố tụng hình sự Việt nam. Bởi lẽ nguyên tắc suy đoán vô tội là một trong nhiều các nguyên tắc hợp thành hệ thống nguyên tắc của luật tố tụng hình sự. Hệ thống nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự được chia làm nhiều nguyên tắc song các nguyên tắc của luật tố tụng hình sự đều là sự cụ thể hóa các nguyên tắc chung của pháp luật và các nguyên tắc của hiến pháp. Giữa các nguyên tắc này có mối liên hệ mật thiết với nhau tác động qua lại lẫn nhau. Đó là sự thực hiện nguyên tắc này là tiền đề để thực hiện nguyên tắc kia hoặc nguyên tắc này cụ thể hóa nguyên tắc kia.

Là một trong những nguyên tắc của tố tụng hình sự với tư cách là những tư tưởng và quan điểm chủ đạo, có khả năng định hướng cho cả hệ thống pháp luật tố tụng hình sự và hệ thống tư pháp hình sự, nguyên tắc suy đoán vô tội nhất thiết phải có mối liên hệ với các nguyên tắc khác nhằm tạo nên tính nhất quán, tính hệ thống của các nguyên tắc tố tụng. Sự nhất quán đó không chỉ là việc giao thoa, bổ sung cho nhau về nội dung của các nguyên tắc mà còn là sự nhất quán với nhau trên một định hướng chung cho toàn bộ các hoạt động và quan hệ tố tụng hình sự đó chính là mục đích của tố tụng hình sự. Do đó nguyên tắc su đoán vô tội phải được xây dựng phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự như: nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tình nghi, bị can, bị cáo và nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng…

Nội dung được trích từ bài viết “Thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam” được đăng tải trên Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*