PHÂN TÍCH, CHỨNG MINH ĐIỀU TRA

Điều tra vụ án hình sự là một gia đoạn tố tụng hình sự độc lập. Với tính chất là một giai đoạn độc lập của tố tụng hình sự, giai đoạn điều tra vụ án hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để chứng minh việc thực hiện tội phạm và người phạm tội, xác định rõ những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, đồng thời kiến nghị các cơ quan và tổ chức hữu quan áp dụng đầy đủ các biện pháp khắc phục và phòng ngừa tội phạm

1/ Chủ thể:

 – Chủ thể tiến hành điều tra là các cơ quan điều tra và các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra. Theo điều 163 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 16 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

– Chủ thể tham gia điều tra: Bị can, bị cáo, người làm chứng và tất cả những người có liên quan.

2/ Nhiệm vụ:

– Phát hiện, ngăn chặn tội phạm, hạn chế khắc phục thiệt hại của tội phạm

– Thu thập tài liệu, chứng cứ làm rõ tội phạm và người phạm tội

– Chuẩn bị điều kiện cần thiết khác để xét giải quyết vụ án một cách đúng đắn, phát hiện đầu mối mới phục vụ cho việc điều tra trinh sát hoặc tiến hành tố tụng mở rộng vụ án

– Kiểm tra, xác định căn cứ khởi tố

3/ Thẩm quyền điều tra: Theo Điều 163 (Bộ luật tố tụng hình sự 2015)

– Thẩm quyền điều tra theo sự việc: Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân, Cơ quan điều tra trong Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Thẩm quyền điều tra theo tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm: tùy vào mức độ nguy hiểm của tội phạm là ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng thì sẽ tương ứng với thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp huyện, tỉnh và bộ.

Thẩm quyền điều tra theo lãnh thổ: Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình. Trường hợp chưa xác định được nơi xảy ra tội phạm thì việc điều tra vụ án đó thuộc thẩm quyền Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt.

Các cơ quan khác: Bộ đội biên phòng, cơ quan hải quan, cơ quan kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển, các cơ quan khác trong công an nhân dân, các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân.

4/ Thời điểm bắt đầu: từ khi cơ quan (người) tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.

5/ Thời điểm kết thúc: kết thúc điều tra bằng bản kết luận điều tra và quyết định của Cơ quan Điều tra về việc đề nghị Viện kiểm sát truy tố bị can trước Tòa án hoặc đình chỉ vụ án hình sự tương ứng. 

6/ Thời hạn điều tra:

– Thời hạn điều tra theo thủ tục chung:

– Theo Khoản 1 Điều 172 (BLTTHS 2015) thì:

+ Không quá 2 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng kể từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự cho đến khi kết thúc điều tra

+ Không quá 3 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng

+ Không quá 3 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng

– Theo Khoản 2 Điều 172 (BTTHS 2015) quy định về gia hạn:

+ Tội ít nghiêm trọng: gia hạn 1 lần không quá 2 tháng

+ Tội nghiêm trọng: gia hạn 2 lần (lần 1: không quá 3 tháng; lần 2: không qua 2 tháng)

+ Tội rất nghiêm trọng: gia hạn 2 lần, mỗi lần không quá 4 tháng

+ Tội đặc biệt nghiêm trọng: gia hạn 3 lần, mỗi lần không quá 4 tháng

– Theo Khoản 3 Điều 172 (BLTTHS 2015) quy định về gia hạn đặc biệt:

+ Đối với tội đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn điều tra đã hết, do tính chất phức tạp của vụ án nên chưa thể kết thúc việc điều tra thì có thể gia hạn thêm một lần không quá 4 tháng

+ Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao gia hạn một lần nữa không quá 4 tháng

Thời hạn phục hồi điều tra:

+ Không được quá 2 tháng đối với tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng và tội rất nghiệm trọng; 3 tháng đối với tội đặc biêt nghiêm trọng

+ Gia hạn: đối với tội nghiêm trọng và tội rất nghiêm trọng: 1 lần không quá 2 tháng; tội đặc biệt nghiêm trọng: 1 lần không quá 3 tháng.

Thời hạn điều tra bổ sung:

+ Không quá 2 tháng đối với vụ án do Viện kiểm sát trả lại để điều tra bổ sung

+ Không quá 1 tháng đối với vụ án do Tòa án trả lại để điều tra bổ sung

Và Viện kiểm sát và Tòa án không được trả lại hồ sơ để diều tra bổ sung quá 2 lần.

Thời hạn điều tra lại: được quy định theo thủ tục chung

Thời hạn điều tra theo thủ tục rút gọn: 12 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án

Thời hạn điều tra ban đầu: 7 ngày kể từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *