Phân biệt tội dùng nhục hình và tội bức cung

Tội dùng nhục hình và tội bức cung đều xâm phạm đến sự hoạt động đúng đắn của cơ quan tư pháp, xâm phạm đến quyền được tôn trọng, và bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân.

– Chủ thể của tội phạm phải là người có chức vụ, quyền hạn trong việc điều tra, truy tố, xét xử.

– Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp.

Tuy nhiên, hai tội này cũng có những cấu thành riêng, cụ thể như sau:

Nội dungTội dùng nhục hìnhTội bức cung
Cơ sở pháp lýĐiều 373 Bộ luật hình sự 2015Điều 374 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017
Khái niệmNhục hình là phương pháp tra tấn, gây đau đớn về thể xác người bị điều tra, xét hỏi hoặc bị giam giữ cải tạo như đánh đập, bắt nhịn đói, ăn cơm nhạt, không cho uống nước, bắt nằm lạnh, vv. Dùng nhục hình trong hoạt động tư pháp (hoạt động điều tra, xét xử vụ án và giáo dục, cải tạo người phạm tội) là một tội phạmBức cung là Hành vi của người có trách nhiệm lấy lời khai trong hoạt động tư pháp đã sử dụng những thủ đoạn khác nhau cưỡng ép người bị lấy lời khai phải khai sai những điều họ biết.
Loại cấu thành tội phạmCấu thành tội phạm hình thứcCấu thành tội phạm vật chất
Hành viHành vi khách quan của tội dùng nhục hình là hành vi dùng nhục hình, đó là những hành vi có tính chất hành hạ, gây đau đớn về thể xác, xúc phạm đến nhân phẩm danh dự của người khác.Hành vi khách quan của tội bức cung là hành vi bức cung, dùng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị thẩm vấn phải khai ra sự thật. Thủ đoạn mà người phạm tội có thể dùng để cưỡng ép người bị thẩm vấn khai sai sự thật có thể là: đe doạ sẽ dùng nhục hình; đe doạ sẽ xử nặng; đe doạ sẽ bắt giam, xét xử người thân thích như vợ, con….
Hậu quảKhông là dấu hiệu bắt buộc Chỉ cần có hành vi dùng nhục hình trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đều sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sựLà dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm Hành vi bức cung phải dẫn tới hậu quả người bị thẩm vấn đã khai sai và do vậy gây hậu quả nghiêm trọng cho việc giải quyết vụ án. Hậu quả nghiêm trọng ở đây có thể là hậu quả xử sai một cách nghiêm trọng (oan hoặc bỏ lọt, xử phạt quá nặng hoặc xử phạt quá nhẹ…) hoặc có thể bắt giam người sai…
Chủ thểChủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ có những người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án mới có thể thực hiện được tội phạm này. Họ có thể là Thủ trưởng và Phó thủ trưởng cơ quan điều tra; Điều tra viên; Thủ trưởng, Phó thủ trưởng đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, Kiểm lâm và các cơ quan khác của lực lượng Cảnh sát nhân dân, lực lượng An ninh nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát các cấp; Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán Toà án các cấp, Hội thẩm; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan Thi hành án, Chấp hành viên ở cơ quan thi hành án dân sự các cấp. Ngoài ra, chủ thể của tội phạm phải thỏa mãn điều điện là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.Chủ thể của tội phạm này chỉ có thể là điều tra viên; kiểm sát viên làm công tác điều tra, hoặc kiểm sát điều tra; thẩm phán, hội thẩm khi tiến hành xét xử tại phiên toà. Trong một số trường hợp, chủ thể của tội phạm còn có thể là cán bộ, chiến sĩ công an xã, phường khi họ phối hợp tham gia các hoạt động tư pháp (như tham gia bắt người khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền) mà có hành vi bức cung người bị thẩm vấn. Ngoài ra, chủ thể của tội phạm phải thỏa mãn điều điện là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *