Nhận định Luật tố tụng hình sự có đáp án (Phần biện pháp ngăn chặn)

1. Biện pháp ngăn chặn chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo.

NĐ sai, tại vì:

Căn cứ Điều 109 BLTTHS các BPNC được áp dụng để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như cần đảm bảo thi hành án.

Theo quy định này thì trường hợp áp dụng BPNC để kịp thời ngăn chặn tội phạm thì đối tượng bị áp dụng BPNC không phải là bị can, bị cáo. Cụ thể, đối với BPNC giữ người trong trường hợp khẩn cấp thì đối tượng bị áp dụng không phải là bị can, bị cáo mà khi các chủ thể thực hiện các hành vi quy định tại Khoản 1 Điều 110 BLTTHS thì có thể bị áp dụng BPNC này. Và đối với các BPNC khác quy định tại khoản 1 Điều 117 như : bắt người phạm tội quả tang, biện pháp tạm giữ cũng có thể áp dụng đối với người chưa phải là bị can, bị cáo.

2. VKS có quyền áp dụng tất cả các biện pháp ngăn chặn trong TTHS.

NĐ sai, tại vì:

Theo quy định tại Đ109 BLTTHS thì BPNC bao gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Trong tất cả các biện pháp ngăn chặn trên không phải biện pháp nào VKS cũng có quyền áp dụng. Theo quy định tại K2 Đ110 BLTTHS quy định về thẩm quyền ra lệnh GIỮ người trong trường hợp khẩn cấp thì VKS không có quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn này. Và căn cứ vào k2 Đ117 BLTTHS quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữ thì VKS cũng không có quyền áp dụng biện pháp này.

3. VKS không có quyền hủy bỏ BPNC trái pháp luật của Tòa án.

 NĐ đúng, vì:

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 125 BLTTHS thì đối với những BPNC do VKS phê chuẩn thì việc hủy bỏ hoặc thay thế phải do VKS quyết định. Theo quy định về thủ tục áp dụng trong các BPNC được quy định tại chương VII BLTTHS thì các BPNC do Tòa án áp dụng không cần có sự phê chuẩn của VKS. Do vậy VKS không có quyền hủy bỏ BPNC trái pháp luật của Tòa án.

4.  Biện pháp tạm giữ vẫn có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo.

NĐ đúng, tại vì:

Căn cứ K1 Đ117 BLTTHS thì biện pháp tạm giữ có thể được áp dụng đối với những người giữ trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội đầu thú, tự thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã. Đối với trường hợp người phạm tội đã có quyết định khởi tố VAHS hoặc bị tòa án quyết định đưa ra xét xử nhưng bỏ trốn sau đó cơ quan có thẩm quyền quyết định ra lệnh truy nã và bị bắt thì có thể bị áp dụng biện pháp tạm giữ. Như vậy, đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ trong trường hợp này là bị can, bị cáo. Do đó, biện pháp tạm giữ có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo.

5. Biện pháp tạm giữ là biện pháp ngăn chặn duy nhất có thể được áp dụng ngay sau khi bắt được người đang bị truy nã.

 NĐ sai, tại vì;

Căn cứ vào điểm c K2 Đ119 BLTTHS thì bị can bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã thì cũng có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam.. Như vậy, biện pháp tạm giữ không phải là biện pháp ngăn chặn duy nhất có thể được áp dụng ngay sau khi bắt được người đang bị truy nã.

6.  Thời hạn tạm giữ không được tính vào thời hạn tạm giam.

NĐ sai, tại vì:

Căn cứ K4 Đ118 BLTTHS thì thời hạn tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam. Một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam.

7. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp có quyền ra quyết định tạm giữ.

 NĐ sai, tại vì:

Căn cứ Khoản 2 Điều 117 BLTTHS quy định về những chủ thể có quyền ra quyết định tạm giữ bao gồm: những người có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp quy định tại k2 Đ110 BLTTHS. Và trong các chủ thể quy định tại k2 Đ110 BLTTHS không quy định thẩm quyền của VTVKSND các cấp

8. Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú không áp dụng đối với người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam.

NĐ sai, tại vì:

Theo quy định tại K1 Đ123 BLTTHS thì biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú có thể được áp dụng đối với bị can bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nhằm đảm bảo sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của CQĐT, VKS, Tòa án. Như vậy, việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú không căn cứ vào bị can, bị cáo là người Việt Nam hay là người nước ngoài. Do đó, nếu người nước ngoài phạm tội mà có nơi cư trú rõ ràng thì cũng có thể áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú

9.  Biện pháp bảo lĩnh chỉ áp dụng cho bị cáo là người chưa thành niên.

 NĐ sai, tại vì:

Theo quy định tại K1 Đ121 BLTTHS thì biện pháp bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn được áp dụng thay thế cho biện pháp tạm giam. Và căn cứ vào Đ119 BLTTHS thì biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng; bị can bị cáo phạm tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội. Như vậy, biện pháp bảo lĩnh có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo nêu trên chứ không phải chỉ áp dụng cho bị cáo là người chưa thành niên.

10. Biện pháp đặt tiền để đảm bảo được áp dụng không phụ thuộc vào việc bị can, bị cáo phạm loại tội gì.

NĐ đúng, tại vì:

Căn cứ K1 Đ122 BLTTHS thì biện pháp đặt tiền để bảo đảm được áp dụng để thay thế biện pháp tạm giam mà căn cứ vào Đ88 BLTTHS thì biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với mọi loại tội phạm. Do đó biện pháp đặt tiền để đảm bảo được áp dụng không phụ thuộc vào việc bị can, bị cáo phạm loại tội gì

Lưu ý: Đáp án mang tính tham khảo

Còn tiếp…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *