HIỆU LỰC CỦA GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ NHÃN HIỆU ĐƯỢC XÁC ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO?

Nhãn hiệu là tài sản trí tuệ của doanh nghiệp gắn với hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh. Xây dựng một nhãn hiệu để đến được với người tiêu dùng là một quá trình dài, đòi hỏi các doanh nghiệp phải đầu tư trí lực, chi phí,…Vì vậy, việc bảo hộ nhãn hiệu gắn với hàng hóa, dịch vụ mà mình sản xuất, kinh doanh là việc vô cùng cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp, tránh những rủi ro không đáng có cũng như sự cạnh tranh không lành mạnh của các đối thủ trên thị trường.

Theo đó, khi người nộp đơn đăng ký nhãn hiệu gắn với hàng hóa, dịch vụ của mình đến cơ quan có thẩm quyền, khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu theo Luật sở hữu trí tuệ thì nhãn hiệu đăng ký sẽ được bảo hộ theo Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không phải mặc nhiên mà có hiệu lực mãi mãi, chủ sở hữu cần phải tiến hành các thủ tục gia hạn hiệu lực theo quy định khi đến hạn hết hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu.

1/ Hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu:

– Căn cứ Khoản 6 Điều 93 (Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005) thì Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm. Vì vậy, nếu chủ sở hữu muốn Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu vẫn còn hiệu lực thì buộc phải nộp lệ phí gia hạn theo quy định Khoản 2 Điều 94 (Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005).

Theo đó, nếu chủ sở hữu Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không nộp lệ phí gia hạn hiệu lực cho Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu sẽ bị chấm dứt hiệu lực theo Điểm a Khoản 1 Điều 95 (Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005).

Ngoài ra, Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu sẽ bị chấm dứt hiệu lực trong các trường hợp được quy định rất cụ thể tại Điều 95 (Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005)

+ Chủ văn bằng bảo hộ tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu công nghiệp;

+ Chủ văn bằng bảo hộ không còn tồn tại hoặc chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không còn hoạt động kinh doanh mà không có người kế thừa hợp pháp;

+ Nhãn hiệu không được chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu cho phép sử dụng trong thời hạn năm năm liên tục trước ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực mà không có lý do chính đáng, trừ trường hợp việc sử dụng được bắt đầu hoặc bắt đầu lại trước ít nhất ba tháng tính đến ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực;

+ Chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đối với nhãn hiệu tập thể không kiểm soát hoặc kiểm soát không có hiệu quả việc thực hiện quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể;

+ Chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đối với nhãn hiệu chứng nhận vi phạm quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận hoặc không kiểm soát, kiểm soát không có hiệu quả việc thực hiện quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận;

+ Các điều kiện địa lý tạo nên danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý bị thay đổi làm mất danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm đó.

2/ Thời hạn gia hạn hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu:

Theo quy định tại Thông tư 16/2016/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14 tháng 02 năm 2007 hướng dẫn thi hành nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, được sửa đổi, bổ sung theo thông tư số 13/2010/TT-BKHCN ngày 30 tháng 7 năm 2010, thông tư số 18/2011/TT-BKHCN ngày 22 tháng 7 năm 2011 và thông tư số 05/2013/TT-BKHCN ngày 20 tháng 02 năm 2013 thì để được gia hạn hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, trong vòng 06 tháng tính đến ngày Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hết hiệu lực, chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu phải nộp cho Cục Sở hữu trí tuệ đơn yêu cầu gia hạn và phí thẩm định yêu cầu gia hạn, lệ phí gia hạn hiệu lực văn bằng bảo hộ, phí sử dụng văn bằng bảo hộ, phí đăng bạ và phí công bố quyết định gia hạn hiệu lực văn bằng bảo hộ.

Hơn nữa, đơn yêu cầu gia hạn có thể nộp muộn hơn thời hạn quy định nêu trên nhưng không được quá 06 tháng kể từ ngày văn bằng bảo hộ hết hiệu lực và chủ văn bằng bảo hộ phải nộp thêm 10% lệ phí gia hạn hiệu lực muộn cho mỗi tháng nộp muộn.

Căn cứ vào quy định trên thì chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu chỉ được nộp đơn yêu cầu gia hạn và phí thẩm định yêu cầu gia hạn, lệ phí gia hạn hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu trong vòng 06 tháng trước và sau kể từ ngày Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hết hiệu lực, nếu quá thời hạn quy định thì chủ sở hữu Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không có quyền gia hạn hiệu lực đối với Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đó nữa và Giấy chứng nhận đó sẽ bị chấm dứt hiệu lực theo quy định.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *