Điểm mới liên quan đến sáng chế của Luật sửa đổi, bổ sung Luật sở hữu trí tuệ 2022 (tt)

8/ Bổ sung quy định về thẩm định nội dung đơn đăng ký sáng chế

Luật SHTT sửa đổi 2022 đã bổ sung quy định chính thức cho phép Cục sở hữu trí tuệ có thể sử dụng kết quả thẩm định nội dung đơn đăng ký sáng chế trùng với sáng chế được yêu cầu bảo hộ do cơ quan sáng chế nước ngoài thực hiện trong quá trình thẩm định khả năng bảo hộ sáng chế tại Việt Nam. Bộ trưởng Bộ KH&CN sẽ hướng dẫn chi tiết về qui định này.

9/ Bổ sung các trường hợp từ chối cấp Bằng độc quyền sáng chế (Điều 117) 

Luật SHTT mới bổ sung thêm 6 trường hợp đăng ký sáng chế sẽ bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ, đó là:

– Người nộp đơn sáng chế không có quyền đăng ký;

– Việc sửa đổi, bổ sung đơn đăng ký sáng chế làm mở rộng phạm vi đối tượng đã bộc lộ hoặc nêu trong đơn hoặc làm thay đổi bản chất của đối tượng yêu cầu đăng ký nêu trong đơn;

– Sáng chế được yêu cầu bảo hộ vượt quá phạm vi bộc lộ trong bản mô tả ban đầu;

– Sáng chế không được bộc lộ đầy đủ và rõ ràng trong bản mô tả sáng chế đến mức căn cứ vào đó người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể thực hiện được sáng chế;

– Đơn đăng ký sáng chế không bộc lộ hoặc bộc lộ không chính xác về nguồn gốc của nguồn gen hoặc tri thức truyền thống về nguồn gen;

– Đơn đăng ký sáng chế được nộp trái với quy định về kiểm soát an ninh.

10/ Bổ sung quy định về đền bù cho chủ sở hữu sáng chế vì chậm trễ trong việc cấp phép lưu hành dược phẩm

Nội dung này chưa được qui định trong luật SHTT 2005 và đã được Luật SHTT mới bổ sung chi tiết tại Điều 131a như sau:

Khi thực hiện thủ tục duy trì hiệu lực Bằng độc quyền sáng chế (BĐQSC), chủ BĐQSC không phải nộp phí sử dụng văn bằng bảo hộ cho khoảng thời gian mà thủ tục đăng ký lưu hành lần đầu của dược phẩm được sản xuất theo BĐQSC đó tại Việt Nam bị chậm.

Thủ tục đăng ký lưu hành dược phẩm bị xem là chậm nếu kết thúc thời hạn hai năm, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đăng ký lưu hành mà cơ quan có thẩm quyền cấp phép lưu hành dược phẩm không có văn bản phản hồi lần đầu đối với hồ sơ.

Khoảng thời gian bị chậm được tính từ ngày đầu tiên sau khi kết thúc hai năm kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền cấp phép lưu hành dược phẩm nhận đủ hồ sơ đến khi có văn bản phản hồi lần đầu.

Thời gian chậm do lỗi của người nộp đơn hoặc do nguyên nhân nằm ngoài kiểm soát của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền không tính vào các khoảng thời gian bị chậm.

Trường hợp chủ BĐQSC đã nộp phí sử dụng Bằng độc quyền sáng chế, số phí đã nộp sẽ được trừ vào kỳ duy trì hiệu lực tiếp theo hoặc hoàn trả.

Để không phải nộp phí sử dụng, trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày dược phẩm được cấp phép lưu hành, chủ BĐQSC phải nộp văn bản xác nhận thủ tục đăng ký lưu hành dược phẩm bị chậm.

Chính phủ sẽ có Nghị định quy định chi tiết về Điều này.

Xem tiếp bài viết: Điểm mới liên quan đến sáng chế của Luật sửa đổi, bổ sung Luật sở hữu trí tuệ 2022 (tt)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *