40 câu hỏi đáp Bộ luật dân sự 2015 có đáp án

I. Một số quy định chung

1. Những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định trong Bộ luật dân sự 2015 là gì?

Ngày 24 tháng 11 năm 2015 vừa qua, Quốc hội đã thông qua và ban hành Bộ luật dân sự 2015 thay thế Bộ luật dân sự 2005. Bộ luật dân sự mới với xu hướng thay thế những quy định không còn phù hợp với thực tế, mang đến một hệ thống pháp luật mới ổn định hơn, áp dụng dễ dàng hơn, bền vững hơn. Như những ngành luật khác, Bộ luật dân sự 2015 được thực hiện, áp dụng theo những nguyên tắc nhất định, quy định tại điều 3 Bộ luật dân sự 2015. Những nguyên tắc đó như sau:

– Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản: Bình đẳng là điều mà mọi ngành luật đều hướng tới với mục đích đảm bảo quyền, lợi ích, nghĩa vụ giữa các bên là như nhau. Luật dân sự điều chỉnh những quan hệ xã hội chung nhất, cơ bản nhất nên sự bình đẳng càng được chú trọng và quan tâm hơn. Cá nhân, pháp nhân không được lấy lý do khác biệt về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau.

– Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng: Tự do, tự nguyện là nguyên tắc cơ bản của các ngành luật nói chung. Mọi cam kết, thỏa thuận giữa các chủ thể đều phải đảm bảo tính tự do, tự nguyện. Các thỏa thuận giữa các bên không trái quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội đều phải được sự tôn trọng giữa các bên và các chủ thể khác.

– Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực: Trung thực trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự của mình là một trong những yêu cầu quan trọng mà pháp luật quy định cho các bên. Sự trung thực đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được thực hiện đúng với thực tế, tránh gây thiệt hại cho chủ thể tham gia quan hệ dân sự.

– Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác: Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên chủ thể tham gia giao dịch dân sự là hoạt động của các bên chủ thể, liên quan đến lợi ích của các bên chủ thể và chủ thể có liên quan. Nếu hành vi trên xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì các bên chủ thể sẽ pháp sinh nghĩa vụ dân sự đối với những thiệt hại do hành vi xâm phạm đó gây nên.

– Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự: Các bên khi tham gia vào quan hệ dân sự đều có năng lực dân sự và nặng lực thực hiện nghĩa vụ dân sự. Vì vậy. cá nhân, pháp nhân phải có trách nhiệm đối với hành vi mình gây ra cũng như chịu trách nhiệm với việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.

2. Việc áp dụng Bộ luật dân sự được quy định như thế nào trong Bộ luật dân sự năm 2015?

Để bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong xây dựng, áp dụng pháp luật dân sự và để làm rõ vị trí, vai trò của Bộ luật dân sự, Điều 4 Bộ luật dân sự 2015 quy định việc áp dụng Bộ luật dân sự như sau:

– Bộ luật dân sự là luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự.

– Luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật dân sự.

– Trường hợp luật khác có liên quan không quy định hoặc có quy định nhưng trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì quy định của Bộ luật dân sự được áp dụng.

– Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Bộ luật dân sự và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế.

3. X cho Y thuê nhà với giá 05 triệu đồng/tháng với thời hạn 01 năm. Sau thời hạn này bên Y phải trả lại nhà thuê cho bên X. Sau 01 năm, X đòi lại nhà nhưng Y không chịu trả. Trong trường hợp này thì X có những phương thức gì để bảo vệ quyền lợi của mình?

Để thống nhất trong điều chỉnh pháp luật về phương thức bảo vệ quyền và để tạo cơ chế pháp lý cho cá nhân, pháp nhân lựa chọn phương thức bảo vệ quyền dân sự, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định cụ thể, khi quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền:

– Tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật dân sự, luật khác có liên quan. Việc lựa chọn phương thức tự bảo vệ quyền dân sự thì việc tự bảo vệ quyền phải phù hợp với tính chất, mức độ xâm phạm đến quyền dân sự đó và không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự.

 – Hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện các biện pháp sau:

+ Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của mình.

+ Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm.

+ Buộc xin lỗi, cải chính công khai.

+ Buộc thực hiện nghĩa vụ.

+ Buộc bồi thường thiệt hại.

+ Hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.

+ Yêu cầu khác theo quy định của luật.

Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Đối chiếu với các quy định trên thì X có quyền buộc Y thực hiện nghĩa vụ trả lại nhà, nếu việc chậm trả nhà của Y gây thiệt hại cho X thì X còn có quyền yêu cầu Y bồi thường thiệt hại cho mình. X có thể sử dụng các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng hiện nay như: thương lượng, hòa giải, trọng tài hoặc Tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình.

II. Cá nhân

4. H là người nghiện ma túy lâu năm, mỗi khi không có tiền mua ma túy, H thường mang tài sản của gia đình đi bán. Vậy, H có thể bị Tòa án tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hay không?

Theo Điều 24 Bộ luật dân sự thì một cá nhân bị coi là hạn chế năng lực hành vi dân sự phải đáp ứng các điều kiện do luật định. Cụ thể là: Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện.

Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác.

Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Đối chiếu với quy định trên thì H có thể bị Tòa án tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nếu có đơn yêu cầu của gia đình H.

5. Sau khi bị tai nạn lao động, mắt anh D nhìn mờ gần như là không thấy gì. Hiện anh D đang có nhu cầu bán một mảnh đất để lấy tiền chạy chữa.Trường hợp này của anh D có bị coi là mất năng lực hành vi dân sự không và anh D có thể trực tiếp thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất được không?

Trường hợp của anh D không được xem là mất năng lực hành vi dân sự. Bởi theo Khoản 1 Điều 22 Bộ Luật dân sự 2015 việc một người bị mất năng lực hành vi dân sự được giải thích như sau:

“Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.”

Chính vì vậy, anh D có thể trực tiếp thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo trình tự thủ tục pháp luật quy định.

6. Bố đẻ tôi dân tộc Kinh còn mẹ tôi dân tộc Dao. Khi sinh tôi, được sự đồng ý của bố, mẹ tôi đã đi khai sinh cho tôi theo dân tộc của mẹ. Nay bố mẹ tôi đã ly hôn, tôi ở với bố, nên bố tôi muốn tôi sửa lại theo dân tộc Kinh của bố. Xin hỏi trong trường hợp này, tôi có quyền thay đổi dân tộc của mình không?

Điều 29 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền xác định, xác định lại dân tộc như sau:

1. Cá nhân có quyền xác định, xác định lại dân tộc của mình.

2. Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ. Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thoả thuận của cha đẻ, mẹ đẻ; trường hợp không có thỏa thuận thì dân tộc của con được xác định theo tập quán; trường hợp tập quán khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn.

Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì dân tộc của trẻ em được xác định theo dân tộc của người đó.

Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em vào thời điểm đăng ký khai sinh cho trẻ em.

3. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong trường hợp sau đây:

a) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau;

b) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ trong trường hợp con nuôi đã xác định được cha đẻ, mẹ đẻ của mình.

4. Việc xác định lại dân tộc cho người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi phải được sự đồng ý của người đó.

5. Cấm lợi dụng việc xác định lại dân tộc nhằm mục đích trục lợi hoặc gây chia rẽ, phương hại đến sự đoàn kết của các dân tộc Việt Nam.

Như vậy, theo quy định trên thì pháp luật cho phép bạn có quyền được xác định lại dân tộc theo dân tộc của bố đẻ của mình. Bạn cần đến Phòng hoặc Sở Tư pháp để được hướng dẫn các thủ tục xác định lại dân tộc.

7. Hôm nay, Linh có thư nhưng Linh nghỉ ốm nên cô giáo chủ nhiệm đã nhờ Nga mang thư về cho bạn vì nhà Nga và Linh gần nhau, 2 bạn lại chơi rất thân với nhau. Nhưng thay vì đưa thư cho Linh thì Nga tò mò bóc thư của Linh đọc. Theo quy định pháp luật thì việc làm của Nga có đúng không?

Điều 38 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình như sau:

Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình phải được người đó, các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp việc thu thập, lưu giữ, sử dụng hoặc công bố công khai thông tin này vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật. Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật định.

Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Như vậy, đối chiếu với các quy định trên thì việc Nga bóc thư mà không có sự đồng ý của Linh là trái quy định của pháp luật.

8. Sau khi bố mẹ mất, nhà chỉ còn tôi và em trai 15 tuổi. Nay tôi phải đi lấy chồng xa và kinh tế cũng khó khăn nên tôi muốn có người giám hộ cho em tôi. Xin hỏi, pháp luật quy định như thế nào về người giám hộ cho người chưa thành niên?

Điều 52 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên mà không còn cả cha và mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cả cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu, được xác định theo thứ tự sau:

1. Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ;

2. Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 Điều này thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ;

3. Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.

Trường hợp người chưa thành niên không có người giám hộ đương nhiên theo quy định trên thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ.

Như vậy, đối chiếu với các quy định trên, bạn có thể nhờ ông bà nội, ông bà ngoại hoặc bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ cho em trai để đảm bảo tốt nhất lợi ích của em trai bạn.

9. Chị M kết hôn với anh H được 10 năm nay. Do chịu nhiều áp lực từ công việc, cuộc sống và gia đình, đặc biệt là sau khi con gái chị bị tại nạn qua đời, chị M đã phát bệnh tâm thần. Biết chị M bị bệnh, gia đình anh H đã xua đuổi nên bố mẹ đẻ chị M đã đón chị về ở. Xin hỏi, trách nhiệm phải nuôi dưỡng chị M trong trường hợp này thuộc về ai?

Trả lời:

Thứ nhất, theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Bộ luật dân sự 2015 thì: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định.” Như vậy, chị M bị coi là mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự khi và chỉ khi có quyết định của Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

Thứ hai, về việc xác định người có trách nhiệm trông nom, nuôi dưỡng người bị mất năng lực hành vi dân sự. Chị M bị bệnh tâm thần sau khi đã kết hôn. Vì vậy, việc xác định người giám hộ trong trường hợp này cần phải căn cứ vào các quy định của Bộ luật dân sự. Điều 53 Bộ luật dân sự 2015 quy định về người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự như sau:

Trường hợp không có người giám hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định như sau:

1. Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.

2. Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ.

3. Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.

Theo quy định nêu trên, trong trường hợp vợ mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ đương nhiên. Chỉ khi vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ. Như vậy, trường hợp này thì anh H – chồng chị M là người có trách nhiệm phải trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc chị M.

III. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

10. Mùa mưa bão sắp tới, lo sợ cây bên nhà hàng xóm sẽ đổ sang nhà mình nên nhiều lần tôi yêu cầu họ chặt cây hoặc tỉa bớt cành nhưng họ không thực hiện. Tôi có thể nhờ chính quyền can thiệp được không? Nếu cây đổ gây thiệt hại thì họ có phải bồi thường không?

Điều 177 Bộ luật dân sự quy định về bảo đảm an toàn trong trường hợp cây cối, công trình có nguy cơ gây thiệt hại như sau:

1. Trường hợp cây cối, công trình xây dựng có nguy cơ sập đổ xuống bất động sản liền kề và xung quanh thì chủ sở hữu tài sản thực hiện ngay các biện pháp khắc phục, chặt cây, sửa chữa hoặc dỡ bỏ công trình xây dựng đó theo yêu cầu của chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; nếu không tự nguyện thực hiện thì chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho chặt cây, phá dỡ. Chi phí chặt cây, phá dỡ do chủ sở hữu cây cối, công trình xây dựng chịu.

2. Trường hợp gây thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh thì chủ sở hữu cây cối, công trình phải bồi thường.

Như vậy, nếu cây cối nhà hàng xóm có nguy cơ gãy, đổ sang nhà bạn, có thể gây thiệt hại về người hoặc tài sản thì bạn có quyền yêu cầu người hàng xóm phải chặt cây; nếu người đó không chặt cây, phá dỡ thì gia đình bạn có quyền yêu cầu chính quyền địa phương cho chặt cây, chủ sở hữu cây cối phải chịu chi phí chặt cây.

Bên cạnh việc buộc phải chặt bỏ cây cối có nguy cơ sập đổ xuống bất động sản liền kề hoặc nơi sinh hoạt công cộng, Điều 604 Bộ luật dân sự quy định việc bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra như sau: Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra.

Như vậy, nếu gia đình bạn đã yêu cầu nhưng người hàng xóm vẫn không chặt cây thì trong trường hợp cây cối đổ gây thiệt hại cho gia đình bạn, nhà hàng xóm sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ các thiệt hại do cây đổ gây ra.

11. Tuần trước, dì tôi đang đi trên đường thì bất ngờ bị trâu nhà hàng xóm húc ngã gãy tay. Vậy chủ trâu phải bồi thường các chi phí nào cho dì tôi?

Điều 603 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra như sau:

1. Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

3. Trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường; khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

4. Trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.

Theo Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 việc xác định thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm như sau:

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khoẻ của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Như vậy, gia đình bạn có quyền yêu cầu người chủ của con trâu đã húc dì của bạn phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định trên.

12. Gia đình tôi chuyển về nhà mới ở từ cuối tháng 8/2017 đến nay. Giữa tháng  8/2017,  nhà sát bên phải tiến hành xây dựng nhà, đến nay gần hoàn thiện thì bên nhà tôi xuất hiện vết nứt ngang, phía tường bên nhà đang xây lún dần và hiện tượng này tiếp tục xảy ra. Khi gặp chủ nhà kế bên thì họ gợi ý sẽ sơn đắp lại vị trí vết nứt, còn hiện tượng lún thì họ nói do nhà tôi xây chất lượng kém nên phải chịu. Vậy tôi cần phải làm gì trong trường hợp của mình? Khi nhà họ đã xây xong rồi thì tôi còn có quyền yêu cầu bồi thường nữa không?

Theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xây dựng về xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị quy định như sau:

1. Trường hợp công trình xây dựng gây lún, nứt, thấm, dột hoặc có nguy cơ làm sụp đổ các công trình lân cận thì phải ngừng thi công xây dựng để thực hiện bồi thường thiệt hại:

a) Việc bồi thường thiệt hại do chủ đầu tư và bên bị thiệt hại tự thỏa thuận; Trường hợp các bên không thoả thuận được thì bên thiệt hại có quyền khởi kiện đòi bồi thường tại toà án;

……

Và theo quy định tại Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra như sau:

Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác.

Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường.

Như vậy nếu có đủ căn cứ và bằng chứng nhà bên cạnh trong quá trình xây dựng gây ra hiện tượng lún và nứt cho nhà bạn thì bạn hoàn toàn có thể yêu cầu chủ nhà khắc phục hoặc bồi thường. Trong trường hợp nhà bên cạnh không đồng ý khắc phục hoặc bồi thường cho bạn thì bạn có thể làm đơn khiếu kiện gửi lên Tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình.

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 588 Bộ luật dân sự 2015 như sau: Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Như vậy, trong vòng 03 năm kể từ khi hiện tượng lún, nứt xuất hiện bạn có thể yêu cầu nhà sát bên khắc phục.

13. Tôi năm nay 19 tuổi và hiện đang học nghề tại một tiệm sửa chữa xe máy do ông Gh làm chủ. Ba ngày trước, tôi được giao sửa một chiếc xe của khách, sau khi sửa xong thấy khách chưa đến lấy nên tôi lấy xe của khách chạy đi công việc cá nhân. Do bất cẩn, tôi đã tông xe vào ông Ng làm cả hai xe máy đều bị hư hỏng, về người thì không bị thiệt hại gì. Sau đó, ông Ng và khách hàng sửa xe đều yêu cầu tôi bồi thường thiệt hại. Xin hỏi họ yêu cầu như vậy có đúng theo quy định của pháp luật không?

Điều 600 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra như sau:

Cá nhân, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các quy định trên, thì quyền yêu cầu bồi thường và trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hư hỏng của chiếc xe khách hàng và xe của ông Ng như sau:

Thứ nhất, đối với thiệt hại gây ra cho xe của ông Ng – người bị bạn tông vào, do bạn tự ý lấy xe của khách đi mà không được sự đồng ý của chủ tiệm và gây ra thiệt hại, tức là thiệt hại gây ra không phải khi đang thực hiện công việc được chủ giao mà hoàn toàn do lỗi của bạn vì bạn đã chiếm hữu, sử dụng chiếc xe đó trái pháp luật. Do vậy, ông Ng có quyền yêu cầu và bạn có trách nhiệm  phải bồi thường thiệt hại cho ông Ng.

Thứ hai, đối với thiệt hại gây ra chiếc xe máy do khách hàng giao cho tiệm ông Gh sửa chữa thì ông Gh có trách nhiệm bồi  thường thiệt hại cho khách hàng. Bởi vì ông Gh với tư cách là chủ tiệm có nghĩa vụ trông giữ, bảo quản khi thực hiện việc nhận sửa xe. Nếu ông Gh có yêu cầu thì bạn phải có trách nhiệm hoàn trả cho ông Gh một khoản tiền theo quy định vì trong trường hợp này bạn đã có lỗi tự ý lấy xe đi và bất cẩn gây tai nạn.

14. Trưa ngày 10/11/2017 tôi đang lái xe ô tô đi đúng phần đường, làn đường và tốc độ theo quy định thì có một người đàn ông khoảng 40 tuổi chạy sang đường, do không để ý nên anh ta đã bị va vào sườn xe, phải đưa đi viện cấp cứu. Hiện người đàn ông này đã qua cơn nguy kịch và ăn uống bình thường. Nay, gia đình người đàn ông này đòi tôi phải bồi thường toàn bộ chi phí chữa bệnh và khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho anh ta. Xin hỏi yêu cầu của gia đình họ có đúng không?

Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra như sau:

1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.”.

Như vậy, nếu lỗi hoàn toàn do nạn nhân gây ra thì bạn không phải bồi thường thiệt hại. Nếu bạn có lỗi một phần thì bạn vẫn phải bồi thường, mức bồi thường căn cứ vào thiệt hại thực tế và khả năng của bạn. Nếu hai bên không thỏa thuận được với nhau về mức bồi thường, hỗ trợ thì có thể khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

15. Xin cho biết, việc xác lập, thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản dựa trên những nguyên tắc nào?

Trả lời:

Theo Điều 160 Bộ luật dân sự năm 2015, việc xác lập, thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản dựa trên những nguyên tắc:

1. Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản được xác lập, thực hiện trong trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.

Quyền khác đối với tài sản vẫn có hiệu lực trong trường hợp quyền sở hữu được chuyển giao, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được trái với quy định của luật, gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

3. Chủ thể có quyền khác đối với tài sản được thực hiện mọi hành vi trong phạm vi quyền được quy định tại Bộ luật này, luật khác có liên quan nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản hoặc của người khác.

16. Ngay sau khi có con bò cái đangchửa lạc vào nhà mình, ông A đã báo ngay cho Ủy ban nhân dân xã để thông báo công khai về sự việc. Tuy nhiên, phải gần 05 tháng sau, ông H ở huyện bên mới biết và đến đề nghị ông A cho nhận lại bò của mình. Hỏi, con bò và con bê được đẻ ra trong thời gian này sẽ thuộc sở hữu của ông A hay ông B?

Trả lời:

Theo Điều 231 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc, thì người bắt được gia súc bị thất lạc phải nuôi giữ và báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại. Sau 06 tháng, kể từ ngày thông báo công khai hoặc sau 01 năm đối với gia súc thả rông theo tập quán thì quyền sở hữu đối với gia súc và số gia súc được sinh ra trong thời gian nuôi giữ thuộc về người bắt được gia súc.

Trường hợp chủ sở hữu được nhận lại gia súc bị thất lạc thì phải thanh toán tiền công nuôi giữ và các chi phí khác cho người bắt được gia súc. Trong thời gian nuôi giữ gia súc bị thất lạc, nếu gia súc có sinh con thì người bắt được gia súc được hưởng một nửa số gia súc sinh ra hoặc 50% giá trị số gia súc sinh ra và phải bồi thường thiệt hại nếu có lỗi cố ý làm chết gia súc.

Như vậy, trong trường hợp trên, sau gần 05 thángkể từ ngày bắt được con bò cái có chửa bị thất lạc và trong thời gian ông A nuôi dưỡng con bò đã đẻ ra con bê thì quyền sở hữu đối với con bò và con bê vẫn thuộc về ông H.

Khi nhận lại bò cái và bê con, ông H có nghĩa vụ thanh toán cho ông A tiền công nuôi giữ và các chi phí khác phát sinh trong quá trình ông A nuôi giữ bò lạc. Ông A sẽ được hưởng 50% giá trị của con bê.

17. Trong những trường hợp nào thì được xác định là chiếm hữu có căn cứ pháp luật?

Trả lời:

Theo khoản 1 Điều 165 Bộ luật dân sự năm 2015, chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong các trường hợp sau đây:

– Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản.

– Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản.

– Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật.

– Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không được xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan.

– Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan.

– Trường hợp khác do pháp luật quy định.

18. Để tránh cho đám cháy lan rộng ra các nhà xung quanh gây thiệt hại lớn, anh A và mọi người có mặt tại hiện trường, nhưng không có anh B đã quyết định phá căn bếp nhà anh B để lấy lối vào chữa cháy. Trong trường hợp này việc phá bếp nhà anh B của anh A và những người có mặt lúc đó có được coi là tình thế cấp thiết không? Anh B có quyền yêu cầu những người này bồi thường thiệt hại không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 171 Bộ luật dân sự năm 2015, thì tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa trực tiếp lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải có hành động gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn.

Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản bị thiệt hại trong tình thế cấp thiết được bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 595 của Bộ luật dân sự.

Đối chiếu với trường hợp này, anh A và những người có mặt lúc đám cháy xảy ra vì muốn tránh nguy cơ lửa cháy lan sang nhiều nhà khác, gây thiệt hại lớn đến các nhà xung quanh mà không có cách nào khác phải phá căn bếp anh B để lấy lối vào chữa cháy. Sự việc xảy ra trong hoàn cảnh bất khả kháng, ngoài ý muốn của anh A và mọi người. Tuy bếp nhà anh B đã bị thiệt hại nhưng nếu anh A và mọi người không phá bếp nhà anh B, ngọn lửa sẽ cháy lan sang các căn nhà khác và khi đó sẽ rất nhiều căn nhà bị cháy, thiệt hại chắc chắn sẽ lớn hơn rất nhiều so với việc bếp nhà anh B bị phá.         

Do vậy, việc phá bếp nhà B của anh A và mọi người trong trường hợp này được coi là tình thế cấp thiết nên anh A và những người tham gia phá bếp không có lỗi và không phải bồi thường thiệt hại cho anh B. Tuy nhiên, anh B có thể yêu cầu người đã gây ra đám cháy nêu trên phải bồi thường thiệt hại (khoản 2 Điều 595 Bộ luật dân sự năm 2015).

19. Gia đình anh A có nghề nấu rượu. Để tận dụng bã rượu bỏ ra, gia đình anh  A nuôi 15 lợn nhưng không xây dựng hệ thống xử lý phân và nước thải từ chuồng mà xả trực tiếp ra đường cống thoát nước phía sau nhà khiến các nhà xung quanh phải hít thở mùi hôi rất khó chịu. Hàng xóm đã nhiều lần góp ý nhưng gia đình anh A vẫn tiếp tục có hành vi xả trực tiếp nước thải và phân lợn ra đường cống thoát nước. Hỏi, hành vi của gia đình anh A có vi phạm pháp luật không?

Trả lời:

Theo Điều 172 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ bảo vệ môi trường thì khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thì chủ thể phải tuân theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; nếu làm ô nhiễm môi trường thì phải chấm dứt hành vi gây ô nhiễm, thực hiện các biện pháp để khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại.

Trong trường hợp này, hành vi xả trực tiếp nước thải và phân lợn ra đường cống thoát nước của gia đình anh A là nguyên nhân chính, trực tiếp gây ô nhiễm không khí của các hộ dân sống xung quanh, làm ảnh đến sức khỏe của người dân. Do vậy, gia đình anh A phải chấm dứt hành vi này, đồng thời, phải thực hiện các biện pháp để khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại cho khu dân cư (nạo vét lại đường cống thoát nước, xây dựng hệ thống thu gom và xử lý phân, nước thải theo công nghệ hầm Biogas…). Tùy theo tính chất và mức độ của hành vi vi phạm, anh A còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

20. Xin cho biết, pháp luật dân sự quy định như thế nào về nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội của chủ sở hữu?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 173 Bộ luật dân sự năm 2015 thì khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thì chủ thể phải tôn trọng, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, không được lạm dụng quyền để gây mất trật tự, an toàn xã hội, làm thiệt hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

Do vậy, chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản, nhưng không được làm thiệt hại và ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của cộng đồng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.Do vậy trong lĩnh vực bảo đảm trật tự, an toàn xã hội thì việc thực hiện quyền sở hữu cũng không nằm ngoài nguyên tắc trên.

Nếu trong quá trình thực hiện quyền sở hữu của mình, chủ sở hữu vi phạm các quy định của pháp luật về trật tự, an toàn xã hội như chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản gây tiếng ồn quá mức, gây mất trật tự công cộng hoặc gây ách tắc, cản trở giao thông, vi phạm các quy tắc xử sự tại nơi công cộng thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra nếu các hành vi kể trên còn gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì chủ sở hữu tài sản còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các chủ thể nói trên theo quy định của pháp luật.

21. Anh A và anh B có mua hai mảnh đất ở cạnh nhau. Năm 2010, để tiết kiệm diện tích, chi phí nên khi xây nhà, hai anh thống nhất xây chung vách tường ở giữa 2 căn nhà (mỗi bên ½ chiều dày của bức tường). Vừa qua, anh B đã xây thêm 01 tầng nữa nhưng lại xây chồng và lấn lên toàn bộ vách tường chung. Hỏi hành vi đó của anh B có vi phạm pháp luật không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015 thì không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng; mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung. Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác.

Đồng thời, cũng theo quy định tại Điều 176 Bộ luật dân sự năm 2015 thì đối với mốc giới là tường nhà chung, chủ sở hữu bất động sản liền kề không được trổ cửa sổ, lỗ thông khí hoặc đục tường để đặt kết cấu xây dựng, trừ trường hợp được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý. Trường hợp nhà xây riêng biệt nhưng tường sát liền nhau thì chủ sở hữu cũng chỉ được đục tường, đặt kết cấu xây dựng đến giới hạn ngăn cách tường của mình.

Do vậy, trong trường hợp này, anh B đã có hành vi xây lấn mốc giới ngăn cách giữa 2 căn nhà (xây lấn cả vách tường chung) nên đã vi phạm nghĩa vụ tôn trọng ranh giới giữa các bất động sản.

22. Ông A ủy quyền cho ông B quản lý căn hộ tập thể của mình trong thời gian ông Ađi thăm một người bạn thân ở nước ngoài. Nhưng đã hơn 20 năm nay, ông B không nhận được tin tức của ông A. Hỏi, theo quy định của pháp luật về quyền chiếm hữu của người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản thì ông B có thể trở thành chủ sở hữu đối với căn hộ tập thể đó không?

Theo quy định tại Điều 187 Bộ luật dân sự năm 2015 thì khi chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản cho người khác thì người được ủy quyền thực hiện quyền chiếm hữu tài sản đó trong phạm vi, theo cách thức, thời hạn do chủ sở hữu xác định. Tuy nhiên, người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản không thể trở thành chủ sở hữu đối với tài sản được giao theo quy định về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật tại Điều 236 Bộ luật dân sự năm 2015.

Như vậy, mặc dù ông B đã quản lý căn hộ tập thể của ông A hơn 20 năm nhưng theo quy định của pháp luật ông B là người đã được ông A uỷ quyền quản lý nên ông B không thể trở thành chủ sở hữu đối với căn hộ tập thể đó.

23. Để thuận lợi trong việc đi lại làm việc cũng như mỗi khi về quê thăm họ hàng đôi bên nội ngoại, vợ chồng anh A, chị B quyết định mua một chiếc xe ô tô và để anh A đứng tên. Một thời gian sau, anh A muốn góp vốn làm ăn chung với một người bạn nhưng chị B không đồng ý. Cho rằng mình là người đứng tên sở hữu xe, nên sẽ có mọi quyền quyết định đối với chiếc xe. Hỏi quan điểm của anh A có đúng không? Pháp luật quy định như thế nào về sở hữu chung của vợ chồng?

Trả lời:

Điều 213 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về sở hữu chung của vợ chồng như sau:

– Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia.

– Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

– Vợ chồng thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

– Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án.

Theo đó, trong trường hợp này, mặc dù anh A, chị B thỏa thuận cho anh A đứng tên sở hữu chiếc xe ô tô, nhưng đây vẫn được xác định là tài sản thuộc sở hữu chung của anh chị, do hai vợ chồng cùng nhau tạo dựng lên. Vì vậy, nếu muốn bán chiếc xe này, anh A cần phải thống nhất thỏa thuận với chị B.

24. Trong quá trình phá bỏ bụi tre sau nhà, ông H đã đào được 01 chiếc hộp gỗ, trong đó có một số tiền xu bằng vàng, bạc. Ông H định đi báo UBND xã về sự việc nhưng các con ông ngăn lại và cho rằng tài sản tìm thấy trên đất cha ông tổ nghiệp để lại nên đương nhiên thuộc sở hữu của gia đình ông. Hỏi, pháp luật quy định như thế nào về quyền sở hữu đối với tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 229 Bộ luật dân sự năm 2015 về xác lập quyền sở hữu đối với tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy, thì người phát hiện tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phải thông báo hoặc trả lại ngay cho chủ sở hữu; nếu không biết ai là chủ sở hữu thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật.

Tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy mà không có hoặc không xác định được ai là chủ sở hữu thì sau khi trừ chi phí tìm kiếm, bảo quản, quyền sở hữu đối với tài sản này được xác định như sau:

– Nếu tài sản được tìm thấy là tài sản thuộc di tích lịch sử – văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa thì thuộc về Nhà nước; người tìm thấy tài sản đó được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật;

– Nếu tài sản được tìm thấy không phải là tài sản thuộc di tích lịch sử – văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa mà có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì thuộc sở hữu của người tìm thấy; nếu tài sản tìm thấy có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người tìm thấy được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước.

Theo đó,việc xác định ai là chủ sở hữu đối với số tiền xu bằng vàng, bạc đào được sẽ căn cứ vào quy định trên của pháp luật.

Mặc dù số tiền xu bằng vàng, bạc được phát hiện trên mảnh đất do cha ông tổ nghiệp từ trước để lại nhưng nếu không chứng minh được số tài sản được tìm thấy là của cha ông ông H cất giấu thì nó vẫn là tài sản thuộc trường hợp không xác định được chủ sở hữu. Do đó, khi đào được số tiền xu bằng vàng, bạc như nêu trên, ông H có trách nhiệm thông báo cho UBND cấp xã hoặc cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật. Nếu số tiền xu bằng vàng, bạc tìm thấy có giá trị đến 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định thì sẽ thuộc sở hữu của người đã tìm ra là ông H. Nếu số tiền xu bằng vàng, bạc có giá trị lớn hơn 10 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định thì ông H chỉ được hưởng giá trị bằng mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định, số tiền xu bằng vàng, bạc còn lại thuộc về Nhà nước.

25. Trên đường đi làm về, chị M nhặt được chiếc đồng hồ đeo tay nam có giá khoảng 10 triệu đồng. Chị M đã liên hệ với công an phường nơi nhặt được chiếc đồng hồ để thông báo cho người bị mất biết đến nhận, đồng thời mang đồng hồ về nhà. Hơn một năm sau không có ai đến nhận nên chị M muốn cho bố mình sử dụng thì có được không?

Trả lời:

Điều 230 BLDS 2015 quy định về xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên như sau:

“1. Người phát hiện tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà biết được địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc trả lại tài sản cho người đó; nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.

Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã đã nhận tài sản phải thông báo cho người đã giao nộp về kết quả xác định chủ sở hữu.

2. Sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai về tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì quyền sở hữu đối với tài sản này được xác định như sau:

a) Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bỏ quên có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người nhặt được được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; trường hợp tài sản có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì sau khi trừ chi phí bảo quản, người nhặt được được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước;

b) Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên là tài sản thuộc di tích lịch sử – văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa thì tài sản đó thuộc về Nhà nước; người nhặt được tài sản được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật.”

Như vậy, trong trường hợp này thì chiếc đồng hồ đeo tay nam thuộc sở hữu của chị M. Do đó, chị M có quyền tặng cho bố của mình.

26. Nhà anh H nuôi một đàn vịt có 100 con. Một hôm lùa đàn vịt về, anh đếm vịt thấy tăng lên 10 con. Anh H biết có vịt lạ lạc vào đàn vịt của mình, nhưng không thông báo cho các gia đình gần đó cũng như báo với chính quyền biết, mà anh mặc nhiên cho đó là vịt nhà mình. Hỏi, trong trường hợp trên, anh H có thể tự xác lập quyền sở hữu đối với gia cầm bị thất lạc như vậy không?

Trả lời:

Căn cứ Điều 232 Bộ luật dân sự năm 2015 về xác lập quyền sở hữu đối với gia cầm bị thất lạc, trường hợp anh H bắt được gia cầm của người khác bị thất lạc thì anh H phải thông báo công khai đến các hộ dân lân cận và chính quyền cơ sở để thông báo trên các phương tiện đại chúng nhằm giúp chủ sở hữu gia cầm biết mà nhận lại. Sau 01 tháng, kể từ ngày thông báo công khai mà không có người đến nhận thì quyền sở hữu đối với gia cầm và hoa lợi do gia cầm sinh ra trong thời gian nuôi giữ mới thuộc về anh H.

 Do vậy, việc anh H ngay khi bắt được 10 con vịt bị lạc đã tự cho là thuộc quyền sở hữu của mình là không đúng pháp luật.

27. Xin hỏi, khi nào thì quyền sở hữu đối với tài sản được chấm dứt?

Trả lời:

Theo Điều 237 Bộ luật dân sự năm 2015, thì quyền sở hữu đối với tài sản chấm dứt trong những trường hợp sau đây:

– Chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu của mình cho người khác.

– Chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình.

– Tài sản đã được tiêu dùng hoặc bị tiêu hủy.

– Tài sản bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu.

– Tài sản bị trưng mua.

– Tài sản bị tịch thu.

– Tài sản đã được xác lập quyền sở hữu cho người khác theo quy định của Bộ luật này.

– Trường hợp khác do luật quy định.

IV. Tài sản và giao dịch dân sự

28. Pháp luật quy định như thế nào về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự?

Trả lời:

Giao dịch dân sự được hình thành dựa theo sự thỏa thuận và thống nhất ý chí của các bên chủ thể. Tuy nhiên, không phải giao dịch nào có sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của chủ thể cũng làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của chủ thể tham gia giao dịch. Vì vậy, giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật khi đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của giao dịch. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015, theo đó, một giao dịch dân sự có hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

– Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

– Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

– Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định. Theo Điều 119 Bộ luật dân sự năm 2015 thì giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

29. Ông Hải có 5 người con. Vì thương con gái út (chị Hồng) nhất nhà nên ông Hải đã tặng cho chị căn nhà đứng tên ông. Sợ các con trai trong nhà biết chuyện sẽ lời qua tiếng lại, ông Hải đã giả làm hợp đồng mua bán nhà với con gái út, có sự làm chứng của một người họ hàng. Một thời gian sau, anh Hanh – con trai cả của ông Hải biết chuyện đã tỏ ra không hài lòng về việc mình không có được căn nhà. Anh Hanh muốn hỏi, trong trường hợp này, hợp đồng mua bán giữa bố anh và chị Hồng có hiệu lực pháp luật không? Anh Hanh có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự này là vô hiệu không?

Trả lời :

Theo quy định tại Điều 124 Bộ luật dân sự năm 2015 thì khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.

Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.

Ở đây, ông Hải và chị Hồng đã giao kết với nhau một hợp đồng thực tế đáp ứng nguyện vọng cũng như mục đích của các bên khi thiết lập giao dịch  hợp đồng tặng cho căn nhà. Tuy nhiên do lo sợ đến mối quan hệ của các con sẽ bất hòa nên ông Hải lại cùng con mình thiết lập một hợp đồng là mua bán căn nhà với giá thấp để  người khác hiểu sai về bản chất sự việc. Do vậy hợp đồng tặng cho  nhà của ông Hải và chị Hồng đã bị che giấu, nằm sau một giao dịch không có thật là mua bán nhà. Pháp luật quy định, ý chí đích thực bên trong phải thống nhất với ý chí bên ngoài thì mới đảm bảo yếu tố tự nguyện của các chủ thể trong giao dịch. Vậy tại thời điểm ký kết hợp đồng mua bán nhà các bên đã có ý định che giấu giao dịch đích thực là tặng cho căn nhà, trường hợp này được xem là giao dịch giả tạo liên quan đến hợp đồng.

Do đó, anh Hanh có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu bất kỳ lúc nào sau thời gian hai bên thiết lập giao dịch.

30. Pháp luật dân sự quy định như thế nào về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức ?

Trả lời :

Theo Điều 129 Bộ luật dân sự 2015 thì giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ hai trường hợp:

i) Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

ii) Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực

31. Nam mới 15 tuổi nhưng đã a dua chơi bời theo đám bạn xấu. Một lần, vì bố mẹ không cho tiền mua điện thoại mới, Nam đã tự ý bán cho anh An chiếc máy tính xách tay của bố mẹ và nhận 5 triệu đồng. Nam đang định mang số tiền đó đi mua điện thoại mới thì bị bố mẹ phát hiện. Bố mẹ Nam muốn đem 5 triệu đến trả anh An và mang máy tính về nhưng An không đồng ý. Bố mẹ Nam muốn đề nghị Tòa án tuyên bố giao dịch giữa Nam và anh An là vô hiệu thì có đúng không?

Trả lời:

Do Nam mới 15 tuổi, nên theo Điều 20 Bộ luật dân sự 2015, Nam được xác định là người chưa thành niên.

Căn cứ Khoản 1 Điều 125 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này”.

Do vậy, trong trường hợp này, bố mẹ Nam là người đại diện theo pháp luật của Nam. Việc Nam bán chiếc máy tính cho anh An mà không có sự đồng ý của bố mẹ là trái với quy định của pháp luật. Bố mẹ Nam có thể yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch đó là vô hiệu.

32. Pháp luật quy định như thế nào về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu?

Trả lời:

Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định những hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, bao gồm:

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.

33. Tôi và anh K có ký hợp đồng thỏa thuận với nhau về việc anh K bán cho tôi chiếc xe máy cũ hiệu Honda Lead của anh với giá 25 triệu đồng, anh K sẽ giao đầy đủ giấy tờ và xe cho tôi sau khi tôi trả đủ tiền. Hợp đồng đã được công chứng theo quy định. Do anh K chưa đưa giấy tờ xe nên tôi mới đưa anh 20 triệu đồng và nhận xe, hẹn anh 1 tuần nữa lấy giấy tờ và trả nốt số tiền còn lại. Tuy nhiên, khi tôi mang số tiền còn lại đến trả anh K thì biết được, anh K đã làm giả giấy tờ xe để bán cho tôi. Tôi quyết định trao đổi với anh K về việc tôi không muốn mua xe của anh nữa và muốn lấy lại số tiền 20 triệu đồng tôi đã đưa nhưng anh K không đồng ý và nói chỉ chấp nhận chấm dứt hợp đồng khi tôi phạt đền cho anh ấy 10 triệu đồng. Vậy xin hỏi, hiệu lực hợp đồng mua bán giữa tôi và anh K được xác định như thế nào? Tôi phải làm gì để chấm dứt hợp đồng và lấy lại số tiền đã đưa.

Trả lời:

Do anh K ý thức được việc mình không có giấy tờ xe máy và biển số xe là giả mạo nhưng lại nói dối là có đầy đủ giấy tờ xe để bán cho bạn, như vậy, chính vì vậy, trong trường hợp này, giao dịch mua bán xe máy giữa bạn và anh K bị vô hiệu do bị lừa dối, căn cứ theo quy định tại Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015.

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Do đó, hợp đồng mua bán xe máy không làm phát sinh trách nhiệm giữa các bên, căn cứ theo quy định tại điều 132 Bộ luật dân sự năm 2015. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Như vậy, việc anh K không trả lại số tiền bạn đã đưa và yêu cầu phạt bạn 10 triệu đồng vì không thực hiện hợp đồng là không có căn cứ, bởi lẽ hợp đồng  này đã bị vô hiệu. Chính vì vậy, để bảo vệ quyền lợi cho mình bạn nên gửi đơn ra tòa án yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng mua bán này là vô hiệu. Các bên có trách nhiệm hoàn trả lại hiện trạng ban đầu cho nhau.

V. Thừa kế

34. Xin hỏi, pháp luật quy định như thế nào về điều kiện của người lập di chúc?

Trả lời:

Theo Điều 625 và điểm a khoản 1 Điều 630 Bộ luật dân sự 2015thì người lập di chúc phải có điều kiện như sau:

– Người lập di chúc phải là người thành niên; khi lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.

– Nếu người lập di chúc từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi thì phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

35. Bà Xuân đã 55 tuổi, vẫn còn chồng và hai con gái. Ngoài tài sản chung của vợ chồng, bà còn được bố mẹ cho một mảnh đất ở quê. Do mấy năm nay bà hay bị ốm nên bà sợ mình sống không được bao lâu. Bà Xuân muốn lập di chúc để lại tài sản cho chồng và các con. Xin hỏi, bà Xuân có quyền lập di chúc không? Nếu được lập thì di chúc phải có những nội dung gì?

Trả lời:

Điều 609 Bộ luật dân sự 2015 về quyền thừa kế có quy định, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.

Ngoài ra, Điều 610 Bộ luật dân sự 2015 về quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân cũng quy định, mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Căn cứ vào quy định nêu trên của pháp luật cho thấy, bà Xuân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho chồng và các con.

Về nội dung của di chúc, căn cứ Điều 631 Bộ luật dân sự 2015, gồm các nội dung chủ yếu sau:

a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

d) Di sản để lại và nơi có di sản.

Ngoài ra, di chúc có thể có các nội dung khác.

Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.

36. Xin hỏi, người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản hay không? Pháp luật quy định như thế nào về việc từ chối nhận di sản?

Theo quy định tại Điều 620 Bộ luật dân sự 2015 thì, người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.

Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.

Như vậy, người thừa kế có quyền từ chối nhận tài sản nếu như việc từ chối ấy không phải để nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

37. Vợ chồng ông bà X không may qua đời vì bị tai nạn giao thông. Các con của ông bà đều đã trưởng thành. Tài sản ông bà để lại gồm 01 căn nhà 5 tầng, 01 sổ tiết kiệm trị giá 50 triệu đồng và hai chiếc xe máy. Nay các con ông bà muốn tiến hành chia tài sản thừa kế của bố mẹ. Các con ông bà X muốn hỏi, thời điểm và địa điểm mở thừa kế tài sản của bố mẹ họ được xác định như thế nào? Pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này?

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 611 Bộ luật dân sự 2015 thì thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật dân sự.

Tại khoản 2 Điều 71 Bộ luật dân sự quy định, tùy từng trường hợp, Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết,cụ thể:

– Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

– Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

– Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

– Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự. Cụ thể, khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

Do đó, thời điểm mở thừa kế của ông X sẽ do Tòa án quyết định căn cứ vào quy định pháp luật nêu trên.

Về địa điểm mở thừa kế, khoản 2 Điều 611 Bộ luật dân sự 2015 quy định là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản.

Theo đó, trong trường hợp này, địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của ông bà X, trong trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế sẽ là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản của ông bà X.

38. Pháp luật quy định những đối tượng nào không được quyền hưởng di sản?

Theo Điều 621 Bộ luật dân sự 2015 thì những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Tuy nhiên, trong trường hợp nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc thì những đối tượng nêu trên đây vẫn được hưởng di sản theo di chúc.

39. Sau 2 năm đi làm ăn xa, anh Độ trở về quê thì được biết tin anh Mạnh đã mất cách đây hơn 1 năm. Anh Độ cho biết, trước khi đi làm, anh Độ đã cho anh Mạnh vay 20 triệu đồng bằng hợp đồng viết tay và có người làm chứng. Anh Độ muốn hỏi, mình có thể khởi kiện yêu cầu những người thừa kế của anh Mạnh phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ được không? Pháp luật quy định như thế nào về việc thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại?

Trả lời:

Khoản 3 Điều 623 Bộ luật dân sự 2015 có quy định, thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Do anh Mạnh mất được hơn 1 năm nên thời hiệu khởi kiện của anh Độ vẫn còn, vì vậy, nếu sự việc anh Mạnh vay anh Độ 20 triệu nhưng chưa trả là thật thì anh Độ có thể khởi kiện yêu cầu những người thừa kế của anh Mạnh thực hiện nghĩa vụ trả 20 triệu đồng thay anh Mạnh khi còn sống đã vay.

Về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, Điều 615 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:

i) Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

ii) Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại.

iii) Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

iv) Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.

40. Bố tôi năm nay đã ngoài 70 tuổi, muốn chia tài sản là căn nhà đang ở và mảnh đất 70 m2 cho 3 anh em chúng tôi. Vì tuổi cao nên bố tôi không thể tự mình viết di chúc được, bố tôi có thể di chúc miệng được không hay bắt buộc phải lập di chúc bằng văn bản? Pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này?

Trả lời:

Căn cứ Điều 627 Bộ luật dân sự 2015 quy định về hình thức của di chúc thì di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng, do đó, bố của bạn hoàn toàn có thể di chúc miệng chia tài sản của ông cho anh em bạn.

Bên cạnh đó, khoản 5 Điều 630 Bộ luật dân sự 2015 quy định, di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Theo đó, để di chúc miệng được công nhận là hợp pháp, bố bạn có thể nhờ hai người làm chứng cho việc lập di chúc và tiến hành các thủ tục pháp lý nêu trên. Tuy nhiên, để được làm chứng cho việc lập di chúc, người làm chứng phải đáp ứng được các điều kiện của người làm chứng quy định tại Điều 632 Bộ luật dân sự 2015, cụ thể người làm chứng không phải là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; hoặc người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc; hoặc người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Nguồn: https://pbgdpl.moj.gov.vn/Pages/Trang-chu.aspx

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *